2012: Kỳ vọng giảm lạm phát khó đạt

Thứ tư - 23/11/2011 14:33
Báo cáo của Ngân hàng Thế giới chỉ rõ, lạm phát có thể không giảm đáng kể trong tương lai gần vì còn phụ thuộc vào các yếu tố như giá hàng hóa cao, điều chỉnh mức lương tối thiểu, giá điện có khả năng cũng sẽ tăng và kỳ vọng của thị trường về các chính sách tín dụng trong quý cuối năm 2011.
2012: Kỳ vọng giảm lạm phát của VIệt Nam khó đạt

2012: Kỳ vọng giảm lạm phát của VIệt Nam khó đạt


Năm 2012, GDP tăng trưởng trở lại

Tốc độ tăng trưởng của Việt Nam đã chậm lại trong nửa đầu năm 2011 khi các ưu tiên của chính phủ chuyển sang kiềm lạm phát và suy trì ổn định kinh tế vĩ mô. Đầu tháng 2, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 11 (NQ) gồm một lọat những cải cách về chính sách tiền tệ, tài khóa và cấu trúc nền kinh tế nhằm kiềm chế lạm phạt, ổn định nền kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội.

Sau khi điều chỉnh theo NQ11, cả tiền gửi và lãi suất cho vay đều tăng lên. Tăng trưởng tín dụng đã chậm lại khi các ngân hàng thương mại giảm bớt các khoản vay mới, chủ yếu là BĐS và chứng khoán. Chính sách tài khóa được thắt chặt bằng giảm các khoản chi thường xuyên ngoài lương xuống 10%, hủy hoặc hoãn chi những khoản không khẩn cấp, ước tính vào khoảng 80 nghìn tỷ đồng, tương đương 3% GDP.

Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế là 5,6% trong nửa đầu năm 2011 và dự kiến tăng 5,8% cho cả năm 2011 so với mức tăng 6,8% trong năm 2010.

Thâm hụt thương mại dự kiến sẽ được cải thiện trong năm 2011. Tăng trưởng nhâp khẩu chậm lại là kết quả của những chính sách bình ổn, trong khi tăng trưởng xuất khẩu vẫn duy trì mạnh mẽ nhờ giá hàng hóa cao. Kim ngạch xuất khẩu tăng tới 33,7% và nhập khẩu tăng 25,4% trong 8 tháng đầu năm 2011.

Giá cả hàng hóa cao đã giúp giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông nghiệp chủ lực như gạo, cà phê, hạt điều, hạt tiêu, chè, rau quả, cao su... tăng lên gần 40% trong 8 tháng đầu năm 2011. Đồng thời, xuất khẩu dầu thô cũng tăng thêm 52% về giá trị, bất chấp gia tăng về khối lượng chỉ ở mức 5%.

Theo báo cáo này, thâm hụt tài khoản vãng lai hiện ước tính dưới 4% GDP năm 2011, tương tự năm 2010. Lạm phát tăng tốc đến 23% trong tháng 8/2011 so với mức trung bình 11,7% vào cuối năm 2010, mức cao nhất kể từ tháng 11/2008. Lạm phát cao do giá thực phẩm tăng mạnh, chính sách tài khóa và tiền tệ năm 2009-2010; sự điều chỉnh giá nguyên liệu đầu vào chủ chốt (năng lượng và nhiên liệu); và sự mất giá trong tỷ giá giao dịch.

Giá lương thực, thực phẩm vốn chiếm gần 40% rổ CPI đã tăng 34% kể từ tháng 8/2010. Lạm phát hàng tháng đã có dấu hiệu chậm lại 1% từ tháng 6/2011 khi các biện phát bình ổn bắt đầu phát huy hiệu lực.

Tuy nhiên, báo cáo của WB cũng chỉ rõ, lạm phát có thể không giảm đáng kể trong tương lai gần vì còn phụ thuộc vào các yếu tố như giá hàng hóa cao, điều chỉnh mức lương tối thiểu, giá điện có khả năng cũng sẽ tăng và kỳ vọng của thị trường về các chính sách tín dụng trong quý cuối năm 2011.

Việc thắt chặt chính sách tiền tệ đang bắt đầu đặt áp lực lên ngành ngân hàng. Để đối phó với điều kiện thanh khoản chặt chẽ hơn từ cuối năm 2010, các ngân hàng thương mại nhỏ đã đưa ra mức lãi suất huy động cao (18%), bất chất Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giữ lãi suất huy động chỉ ở mức 14% hoặc thấp hơn. Điều này đã gây ra sự cạnh tranh khốc liệt giữa các ngân hàng.

Trong khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã hỗ trợ các ngân hàng yếu, trong thời gian tới các ngân hàng yếu hơn có thể nghĩ tới phương án hợp nhất nếu không đảm bảo được các tiêu chuẩn cần thiết. Tuy nhiên, do môi trường kinh tế vĩ mô còn nhiều bất ổn, các nhà quản lý ngân hàng chỉ miễn cưỡng mới hợp nhất ngân hàng hoặc để xảy ra phá sản trong ngành ngân hàng. Các vấn đề chưa giải quyết được trong ngành ngân hàng sẽ vẫn là mối quan tâm đối với Việt Nam trong những năm tới.

NQ11 đã đề xuất cắt giảm khoảng 80 nghìn tỉ đồng (tương đương 3,2% GDP) đầu tư vốn nhà nước. Bộ Tài chính báo cáo, tổng doanh thu đã tăng gần 23% trong nửa đầu năm 2011 so với cùng kỳ năm 2010. Thâm hụt ngân sách năm nay ước tính giảm còn 5% GDP so với mức  5,6% GDP năm 2010.

Mục tiêu giảm lạm phát xuống mức một con số và duy trì tăng trưởng ở mức 6,5% đã được đề ra cho năm 2012. Thủ tướng đã đưa ra một số ưu tiên cho các tháng còn lại của năm 2011, bao gồm: (1) tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ và tín dụng, (2) có lập trường tài chính thận trọng, (3) thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu của doanh nghiệp nhà nước và lĩnh vực ngân hàng và (4) đảm bảo an sinh và phúc lợi xã hội để duy trì ổn định chính trị trong nước.

Những gì đã đạt được trong nỗ lực ổn định kinh tế của Việt Nam vẫn còn mong manh và bất kỳ một động thái nới lỏng chính sách vội vàng nào cũng có nguy cơ gây ra bất ổn.

 

2007

2008

2009

2010

2011

2012

GDP (%)

+8,5

+6,2

+5,3

+6,8

+5,8

+6,1

CPI (%)

+8,3

+23,1

+6,7

+9,2

+19,0

+10,5

Tỉ lệ thất nghiệp

+4,6

+4,7

+4,6

+4,4

+4,0

+4,0

Nguồn: Ngân hàng Thế giới
 
Kết luận về tình hình Việt Nam, báo cáo của WB nêu rõ, những điều chỉnh mạnh mẽ về hợp nhất tài chính và tái cơ cấu của NQ11 bao gồm tái cấu trúc và cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước và khu vực tài chính sẽ giúp Việt Nam trở về môi trường kinh tế vĩ mô bền vững hơn. Nhưng thực hiện những cải cách cơ cấu một cách sâu rộng cũng sẽ đòi hỏi sự lãnh đạo mạnh mẽ, điều chỉnh cẩn trọng và sự hỗ trợ từ các đối tác phát triển và nhà đầu tư nước ngoài, cũng như phải chịu một số "cơn đau" ngắn hạn.

Khu vực Đông Á  gặp nhiều khó khăn

Tăng trưởng vẫn diễn ra mạnh mẽ tại các nước Đông Á đang phát triển, nhưng đà tăng trưởng vẫn còn tiếp tục thay đổi do nhu cầu bên ngoài đang suy yếu. Chính phủ các nước cần tập trung vào cải cách để tăng nhu cầu và năng suất nội địa, Báo cáo triển vọng kinh tế nửa năm khu vực Đông Á Thái Bình Dương của Ngân hàng thế giới cho biết.

Theo báo cáo, tăng trưởng của khu vực đang chững lại rõ rệt trong khu vực sản xuất công nghiệp. Sản lượng từ các chuỗi cung ứng công nghiệp chính của khu vực, đặc biệt là trong lĩnh vực điện tử, đã bắt đầu giảm sút. Nhu cầu về hàng hóa và nguyên liệu thô vẫn mạnh, giúp cho các nền kinh tế giàu tài nguyên tiếp tục duy trì mức độ xuất khẩu và tăng trưởng GDP cao.

Báo cáo của World Bank dự báo, trong tình trạng bất ổn của châu Âu và suy giảm trong tăng trưởng kinh tế toàn cầu như hiện này, GDP thực tế của các nước Đông Á đang phát triển sẽ tăng thêm 8,2% trong năm 2011 (không bao gồm 4,7% của Trung Quốc) và sẽ tăng 7,8% vào năm 2012.

Nhu cầu nội địa tại các quốc gia có thu nhập trung bình đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng tại khu vực. Giảm tốc độ tăng trưởng tại khu vực châu Âu trong hoàn cảnh thắt lưng buộc bụng và nhu cầu về vốn của các ngân hàng ngày càng tăng sẽ ảnh hưởng tới Đông Á, báo cáo nêu rõ

Dư nợ tín dụng của các ngân hàng trung ương châu Âu tại các nước Đông Á đang phát triển ước tính khoảng 427 tỉ USD, tương đương 6% GDP. Nguồn tín dụng từ các ngân hàng châu Âu ngày càng hạn hẹp có thể cũng ảnh hưởng đến dòng vốn vào Đông Á, nhưng dự trữ cao và tình trạng thặng dư tài khoản vãng lai sẽ bảo vệ các quốc gia trong khu vực trước tác động của những căng thẳng tài chính có thể sẽ được hâm nóng", Bert Hofman, Kinh tế trưởng của Ngân hàng thế giới tại khu vực Đông Á Thái Bình Dương nhận định.
 
Triển vọng tăng trưởng của Đông Á còn bị hạn chế bởi sự bất ổn toàn cầu và ảnh hưởng của thiên tai (Ảnh: Reuters)
 
Tiến độ chậm chạp trong giải quyết các vấn đề nợ nần trong khu vực châu Âu cũng khiến các nhà đầu tư thêm lo ngại về tăng trưởng và tình hình ổn định toàn cầu. Khi dòng vốn chảy từ các thị trường mới nổi vào những nơi trú ẩn an toàn hơn, danh mục đầu tư sẽ thay đổi và thị trường chứng khoán Đông Á sẽ mất giá.

Ảnh hưởng của lũ lụt tại một số quốc gia cũng có khả năng sẽ làm giảm tăng trưởng trong năm nay của khu vực Đông Á. Trong khi thiệt hại vẫn chưa ước tính được hết, tăng trưởng GDP của Thái Lan dự kiến sẽ giảm 2,4% do lụt lội triền miên. Thiệt hại trong lĩnh vực sản xuất được cảm nhận rất rõ ở khu vực còn lại của Đông Á khi ảnh hưởng của thiên tai lan sang các chuỗi cung ứng công nghiệp trong khu vực. Mặc dù việc tái thiết sau lũ trong năm 2012 sẽ đóng góp cho tăng trưởng, hồi phục sản xuất về mức trước thảm họa trong khu vực còn phụ thuộc vào nhu cầu của toàn cầu đối với các thiết bị điện tử và ô tô.

Với tốc độ tăng trưởng mạnh như hiện nay, số lượng người sống dưới 2 USD/ngày ở các nước Đông Á đang phát triển có thể sẽ giảm còn 24% trong năm nay, giảm 2% so với năm 2010. "Dựa vào những dự báo tăng trưởng hiện tại, 38 triệu người ở các nước đang phát triển tại Đông Á sẽ thoát khỏi đói nghèo tới hết năm 2011. Chúng tôi lo ngại tình trạng kinh tế toàn cầu như hiện nay có thể sẽ ảnh hưởng lên tầng lớp dễ bị tổn thương trong khu vực, khi những nỗ lực xóa đói giảm nghèo có thể bị cản trở bởi các sự kiện như sự tăng giá đột ngột bên cạnh tình hình tăng trưởng chậm chạp trong khu vực.", Hofman nhận định.

Phản ứng với sự sụt giảm kinh tế toàn cầu, các nhà lập sách của Đông Á đang nghĩ lại về các lựa chọn chính sách của mình. Trong ngắn hạn, cân bằng giữa kích thích tăng trưởng và chống lại những ảnh hưởng của bất ổn kinh tế toàn cầu là những thách thức hàng đầu, báo cáo nêu rõ.

Nơi nào có mức đầu tư cao, việc tăng cường chất lượng và hiệu quả của đầu tư nên được ưu tiên bên cạnh việc tái cân bằng tăng trưởng  với tiêu dùng trong nước. Cải thiện các chương trình đầu tư công và khung pháp lý sẽ nâng cao chất lượng và tỉ lệ đầu tư. Tăng cường đầu tư hơn vào quản lí và ngăn chặn thảm họa cũng đang dần trở nên quan trọng trong khu vực.

"Các chính phủ có thể tận dụng cơ hội này để tái tập trung vào cải cách nhằm thúc đẩy tăng trưởng trong trung và dài hạn. Đầu tư thêm vào cơ sở hạ tầng, giáo dục và các hệ thống phúc lợi xã hội có thể giúp các quốc gia tăng năng suất và tiến tới sản xuất các giá trị gia tăng cao hơn. Bất kỳ một chương trình kích thích nào cũng nên đảm bảo bền vững về tài chính, có mục tiêu rõ ràng và hướng vào hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu, tiến tới mục tiêu cuối cùng là thúc đẩy tăng trưởng trong nước". Chuyên gia kinh tế của World Bank Ekaterina Vostroknutova, trưởng nhóm tác giả cho biết.

Nguồn tin: VEF

Gửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới

Những tin cũ